Các nghi thức thờ cúng tổ tiên quan trọng của người Việt không phải ai cũng biết

Thờ cúng là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thường và hiếu thảo đối với ông bả, cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì. Trong đó các nghi thức thờ cúng tổ tiên rất quan trọng, hầu hết người Việt ai cũng ít nhiều biết được. Cùng đồ đồng Hưng Yên tìm hiểu qua bài viết này nhé

1. Nghi thức thờ cúng tổ tiên: 

Khi cúng thì chủ gia đình phải bày đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên tắc “đông bình tây quả”, rươu và nước. Sau đó phải đốt đèn dầu, đèn điện hoặc đèn cầy, thắp hương, gõ chuông, rồi khấn và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay dâng lên ngang trán khấn.
Các nghi thức thờ cúng tổ tiên bắt buộc trong thờ cúng tổ tiên được quy định sau:
 – Cúng: Khi có giỗ Tết, chủ nhà bày quả, hoa, rượu, nước, cỗ,  bát đũa, thìa lên bàn thờ rồi thắp hương, thắp đèn, đốt nến, khấn, vái hay lạy để bày tỏ lòng hiếu kính, biết ơn và cầu phước an lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Bình thường người ta hiểu cúng là thắp hương, khấn, lạy và vái.
 – Khấn: Khấn là lời cầu khấn lầm rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên quan đến các cho tiết về ngày tháng năm, nơi chốn, mục đích buổi lễ cúng, cúng ai, tên người trong gia đình, lời xin và lời hứa. Sau khi khấn xong, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính cẩn. Người ta thường nói khấn vái là bởi vậy.
 – Vái: Vái thường được táp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp 2 bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa 2 bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2, 3, 4 hay 5 vái.
 – Lạy: Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả phần tâm hồn và phần thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của người khấn. Tùy theo từng trường họp người ta sẽ lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy và 5 lạy sẽ mang ý nghĩa khác nhau.
Ngoài ra trên bàn lễ của người Việt hay có những bộ đỉnh đồng ngũ sự, lư hương, lọ hoa,… bạn đọc cũng nên lưu ý vấn đề này.

2. Ý nghĩa của lạy và vái trong thờ cúng ông bà tổ tiên

2.1. Ý nghĩa của 2 lạy và 2 vái

Hai lạy dùng để áp dụng cho người sống dùng trong trường hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng điếu, nếu là vai dưới của người quá cố như con cháu, và những người vào hàng con em,… nên lạy 2 lạy.

Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái, ý nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính cẩn, chứ không có ý nghĩa nào khác. Nhưng trong trường hợp người quá cố còn để trong quan tài tại nhà quan, những người đến phúng điếu, nếu là vai trên của người quá cố như các bậc cao niên, hay những người thuộc hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.

2.2. Ý nghĩa của 3 lạy và 3 vái

Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng trưng cho Phật, Pháp, và Tăng. Phật ở đây là giác, tức là giác ngộ, sáng suốt, thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong sạch, thanh tịnh, không bơn nhơ. Đây là nói về nguyên tắc phải theo. Tuy nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy. Trong trường hợp cúng Phật, khi ta mặc âu phục, nêu cảm thấy khó khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

2.3. Ý nghĩa của 4 lạy và 4 vái

Bốn lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ và thánh thần. Bốn lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ 1 tượng (Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú ngụ. Bốn vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp dụng thế lạy.

2.4. Ý nghĩa của 5 lạy và 5 vái

Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành thổ màu vàng đứng ỏ giữa. Còn có ý kiến cho rằng 5 lạy tượng trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ tổ Hùng Vương, những người trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng Vương là vị vua khai sáng giống nòi Việt.

Năm vái dùng đê cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì giờ để mỗi người lạy 5 lạy. Có được phong tục này là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta, con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên, và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.